[Trích dẫn sách] Hơi thở và trị liệu của thầy Thích Nhất Hạnh phần : Quán thân trong thân

Spread the love
Đây là quyển sách nói về khoá tu tập 21 ngày tại Làng Mai của thầy Thích Nhất Hạnh. “Quán thân trong thân” nằm trong chương thứ năm, sau các chương An trú trong hiện tại, Mười sáu phép màu quán niệm hơi thở, Thương thân, Câu hỏi và trả lời. Bên dưới là phần trích dẫn của mình chép lại (có thể có vài sai khác so với bản gốc)
Trong phần này, tác giả có nhắc đến bài học về quán niệm “Thở vào tôi ý thức toàn bộ cơ thể tôi, thở ra tôi ý thức về toàn thân thể tôi”.
Khi thực tập thở vào ra, tôi đang ôm cơ thể tôi trong chánh niệm.
Lúc đó mới quán chiếu sâu sắc được thực tại, mới thấy dòng sông của tri thức, của cái “Đơn thể nhưng chứa cái toàn thể”.
Thiền tập giúp tôi an trú được trong phút giây hiện tại để nhận diện và trân quý những phép màu của sự sống đang có mặt quanh tôi.
Đôi khi do quá bận rộng mà chúng ta lại đánh mất ước hẹn với sự sống, mà đánh mất sự sống là đánh mất tất cả

Làm lắng dịu thân

Chánh niệm có công năng làm an tịnh thân hành. 
Nói đơn giản là “thân hành” chính là toàn bộ sự hoạt động của thân thể, gồm 2 phần
  • Thân hành ngoại: đi đứng, ăn ngủ, nghỉ ngơi …
  • Thân hành nội: sự hoạt động của các bộ phận trong cơ thể bao gồm: thần kinh, nội tiết, hô hấp, tiêu hoá…
Vì vậy hành chính là biểu hiện nhờ các điều kiện, như một bông hoa. Khi hoa nở do hội đủ các điều kiện: thổ nhưỡng đầy đủ dinh dưỡng, lượng ánh sáng vừa đủ, được tưới tẩm thường xuyên thì hoa sẽ nở. Nếu thiếu vắng điều kiện nào đó dẫn đến hoa không nở, ta gọi đó là ẩn tàng.
Nhân duyên hội tụ đầy đủ để hành biểu hiện thì ta gọi là sinh. Khi thiếu vắng vài điều kiện dẫn đến hành không thể hiện thì gọi là diệt. Thực tập thiền, giúp ta thoát khỏi khái niệm sinh và diệt. Khi không có hoa nở thì ta gọi là không có hoa. Nhưng thật chất hoa vẫn ở đó nhưng biểu hiện ở những trạng thái khác, hình thái khác, nhưng vì ta bị kẹt vào tướng nên không thấy được. Ta nên nói khi hội đủ điều kiện thì hoa sẽ nở, còn thiếu vắng thì hoa sẽ ẩn tàng. Vấn đề ở đây không phải là có / không mà chỉ là biểu hiện / không biểu hiện thôi. 
Thân thể ta cũng vậy, bệnh hoạn vẫn luôn có mặt, chỉ là chúng chưa biểu hiện, và nếu không có năng lực quan sát thân thể ta bằng chánh niệm thì ta không thể làm nó lắng yên, êm dịu trở lại. Hơn nữa, ta phải biết yêu thương chăm sóc thân thể ta trước khi ta có thể yêu thương và chăm sóc người khác.

Bảy phép màu của chánh niệm 

Chánh niệm có nhiều công năng và phép mầu. Giống như ở trên là làm lắng dịu thân. Và việc thiền tập mỗi ngày chính là cách chúng ta chế tác và vun trồng năng lượng chánh niệm. 

Phép mầu đầu tiên là có mặt đích thực và sống sâu sắc trong phút giây hiện tại

Thông thường chúng ta hay rơi vào trạng thái, người ở đây mà tâm ở đẩu đâu. Nhất là trong các cuộc họp nhàm chán. Trong đời sống hằng ngày, khi đi trên đường trong đầu ta toàn là suy nghĩ về danh sách công việc phải làm, gửi mail chưa … thân thì đi đường mà tâm thì ở trong văn phòng, ngộ nhỡ va phải người khác hay sang đường khi đèn đỏ thì có tai nạn xảy ra. Vì vậy năng lực của chánh niệm giúp ta thực hiện những sinh hoạt công việc hàng ngày một cách tốt đẹp và tránh xảy ra tai nạn.
Chúng ta nên tập thở, cười đem thân và tâm qui về một mối. 
Ngày nay có phải người trẻ của chúng ta, khi ở bên những người thương yêu thường cắm mặt vào trong điện thoại, đến cả món quà đơn giản nhất là sự có mặt đích thực của mình cho người đối diện chúng ta cũng không thực hiện được. Có mặt không phải là khó, chỉ cần đặt điện thoại xuống, hít vào thở ra và mỉm cười trò chuyện với người đối diện là được mà phải không. Đó là thiền.

Phép màu thứ hai là khả năng nhận diện, nhận diện để thấy sự sống đích thực đang có mặt, bây giờ ở đây.

Ở phép màu đầu tiên, khi mang tâm và thân về một mối, chúng ta có thể cảm nhận sâu sắc được thực tại. Ví dụ, chúng ta ngắm mặt trời lặn, một cảnh tượng hùng vĩ, và dường như mọi người đang thưởng thức một cách trọn vẹn. Nhưng có một vài người trong đoàn, đang bị trấn ngự bởi sự sợ hãi do họ còn chưa nộp báo cáo chẳng hạn… Lúc đó họ không thực sự có mặt ở đó, và vì vậy, cảnh tượng hùng vĩ đó cũng không dành cho họ, lúc đó họ đánh mất khả năng tiếp xúc với sự sống đích thực. Vì vậy Bụt mới nói, khi ta thực sự có mặt thì sự sống mới có mặt. Để không lỡ hẹn với cuộc sống ta cần an trú trong từng phút giây hiện tại ( thử tưởng tượng sự sống là một cô người yêu đỏng đảnh, mà chúng ta không bao giờ được trễ 1 giây với cô ấy.)
Ngồi bên cạnh người yêu, mà tâm trí ta thất thần, vì lo nghĩ, thì người yêu mình có được thương đâu. Được thương là được nhận diện được chú ý tới được lắng nghe và hiểu, thế mà mình lại miên man với suy nghĩ bâng quơ bỏ mặc cô người yêu ngồi cạnh. Dần dà cô ấy sẽ héo mòn và trở thành người khổ đau nhất trên đời.
Gạt bỏ suy nghĩ ấy sang một bên, trở lại, nhìn thẳng vào mắt người yêu và nói chuyện. Khi cả 2 cùng có mặt đích thực thì sự tiếp xúc sẽ trở nên rất thực. Sự sống là cái gì đó rất thực và có mặt trong từng giây phút

Phép màu thứ ba là tiếp xúc và ôm ấp.

Khi ta tiếp xúc với năng lượng chánh niệm nhiều thì ta sẽ nhận được 2 hiệu quả
  • Tiếp nhận được sự nuôi dưỡng và trị liệu 
  • Cung cấp sự chữa trị và làm an tịnh tâm thân
Trong kinh Tân Ước có ghi chép, người nào được chúa Ki Tô chạm đến thì người đó được tự nhiên chuyển hoá và trị liệu, vì trong chúa Ki Tô có năng lực của thánh thần, người chính là Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần chính là nguồn năng lượng của sự có mặt đích thực, của sự sống của khả năng hiểu và thương. Nơi nào có năng lực chánh niệm thì nơi đó sẽ có sự sống, sự bảo hộ, sự an vui, có khả năng nhận diện, tiếp xúc nuôi dưỡng hiểu biết và thương yêu. 
Nếu xung quanh ta toàn là năng lực của chánh niệm (trong giáo đường hoặc chùa, hoặc bất cứ một hành giả nào thì xung quanh đó đều có năng lượng của chánh niệm) thì ta sẽ được nuôi dưỡng rất nhiều khi ta tiếp xúc với những chất liệu lành mạnh, đẹp đẽ và tươi mát đó. Cho nên ta thực tập quán niệm hơi thở: “Thở vào tôi làm cho toàn thân an tịnh, thở ra tôi làm cho toàn thân an tịnh.”. Chúng ta thực tập ôm ấp niềm đau, nỗi khổ, sự bất an và vọng động của thân thể bằng năng lượng chánh niệm, ta sẽ có thể an tịnh thân hành, và tự nhiên sẽ bớt khổ ngay.

Phép màu thứ tư là khả năng chuyên chú vào một đối tượng gọi là Định.

Nếu có chánh niệm về một đối tượng, tức là có khả năng chuyên chú về một đối tượng 100% và lâu bền. Khi làm gì đó, ta không để cho tâm ta phóng đi chỗ khác, tán loạn – nuối tiếc về quá khứ , lo tưởng việc tương lai… ta chỉ làm một việc thôi, đó là tiếp xúc với hiện tại. 
Năng lượng chánh niệm mang trong nó năng lượng của Định. Sự sống chỉ có thể trở nên sâu sắc nhất nếu ta luôn ở trong trạng thấi chuyên nhất, an định. 
Nếu năng lượng Định được duy trì bền bỉ trong đời sống hằng ngày thì Tuệ Giác sẽ khởi phát, ta sẽ có cái nhìn sâu sắc vào lòng sự vật đang có mặt quanh ta. Đấy gọi là phép thực tập quán chiếu (nhìn sâu), trước hết là nhìn sâu vào trong ngũ uẩn của ta: hình hài, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức. 
Với tuệ giác (sự hiểu biết to lớn) thì nó có công năng giải phóng ta khỏi ngục tù của sự sợ hãi, tuyệt vọng, hận thù và sầu muộn.

Phép màu thứ năm là khả năng an trú (Định)

Phép màu thứ sáu là nhìn sâu (Quán chiếu)

Phép màu thứ bảy là giải thoát. (Tuệ giác)

 
Mỗi người đều có năng lực chánh niệm trong tự thân nhưng vì đời sống hằng ngày chúng ta thường sống trong sự quên lãng, sợ hãi, hoặc bận rộn mà năng lượng chánh niệm không có cơ hội biểu hiện. Năng lượng đó không phải là cái gì trừu tượng, mỗi người trong chúng ta đều có sẵn, mà chỉ là chưa biểu hiện. Nếu thực tập tưới tẩm chánh niệm thường xuyên thì nó sẽ phát triển, với mỗi hơi thở vào, ra ta có thể nuôi dưỡng hạt giống đó và nó sẽ phát triển thành một vùng năng lượng, sẽ giúp ta chuyển hoá và đem lại hạnh phúc cho ta và mọi người, loài quanh ta.
 

Chế tác Hỷ Lạc 

Trong phép quán niệm hơi thở thứ 6 : “Thở vào tôi cảm thấy hoan lạc, thở ra tôi cảm thấy hoan lạc”
Những bài tập hơi thở đều có liên quan thân thể và cảm thọ. Cảm thọ và thân thể là tương tức, ta không thể tách rời cảm thọ và thân thể. 
Trong đó, ta phải học cách nuôi dưỡng thân thể ta thì mới có thể đi xa trong quá trình tu tập. Phải học cách nuôi dưỡng thân thể với niềm vui và an lạc chứ không nên ép xác khổ hạnh. Thân thể không phải là chỗ trọ của linh hồn, nó chính là một phần của linh hồn, vì vậy không được khinh suất mà cần phải chăm sóc cơ thể cẩn trọng
Trong thiền tập, yếu tố hỷ lạc là cực kì quan trọng. Thiền phải mang đến cho người tu thiền niềm an vui và hạnh phúc ngay trong khi tu tập. Nếu trong khi tu thiền mà không nếm được chất liẹue của hạnh phúc thì có thể ta đang thực tập chưa đúng phương pháp hoặc vẫn còn bị kẹt ở trong ý niệm tu tập nào đó tỷ như phải hành khổ, phải ép xác để giải thoát. 
Thân thể ta đã đủ khổ rồi không cần phải lao tác ép xác nó nữa. Câu nói “thở vào tôi cảm thấy hoan lạc, thở ra tôi cảm thấy hoan lạc” không phải là sự tự kỉ ám thị, mà là thực tập. Chúng ta cần chế tác ra niềm vui an lạc và hạnh phúc đẻ nuôi dưỡng thân thể trong quá trình tu tập, nếu trong quá trình tu tập ta không có được niềm vui nào thì câu nói “Thở vào tôi cảm thấy hoan lạc” cũng trở nên vô nghĩa.
Cần phải chế tác được hỷ lạc trong quá trình tu tập chánh niệm để làm cho Định và Tuệ tăng trưởng

Ly sinh Hỷ lạc

Sau khi chúng ta có thể chế tác hỷ lạc, chúng ta đến với Ly sinh Hỷ Lạc, hạnh phúc và niềm vui đến từ sự thực tập buông bỏ.
Có nhiều thứ chúng ta có thể buông bỏ, những cái đó trói buộc ta, làm ta mất hết tự do. Sau khi nhìn sâu vào những thứ ấy, ta sẽ có khả năng hiểu rằng chúng thật sự mang đến hạnh phúc cho ta hay chỉ là chướng ngại cho hạnh phúc chân thật.
Một hôm Đức Phật đang ngồi thiền, thì có một bác nông dân xuất hiện, Ông ta trông rất khổ sở và tuyệt vọng, ông hỏi Đức Phật : “Thưa các thầy, các thầy có thấy đàn bò của tôi đi ngang qua đây không? “
Đức Phật nhìn ông với cái nhìn thương cảm và trả lời: “Thưa ông, không, chúng tôi không thấy con bò nào đi ngang qua đây cả.”
Ông nông dân than thở: “Các thầy có biết không tôi chính là người khốn khổ và tội nghiệp nhất trên đời. Gia tài chỉ có 2 sào ruộng của tôi bị sâu ăn hết sạch sành sanh, Đã thế sáng nay không biết vì lý do gì, đàn bò của tôi cũng đột nhiên chạy đâu mất hết. Tôi nghĩ tôi không thể sống nổi, chắc chết mất thôi”
Nghe bác nông dân than thở như vậy, Đức thế tôn thấy rất tội nghiệp ông ta, Ngài nói: “Thưa ông chúng tôi không thấy có con bò nào đi ngang qua đây cả, ông nên tìm ở một hướng khác”
Khi ông nông dân vừa rời khỏi, Phật quay lại với các đồ đệ, mỉm cười rồi nói:” Này các thầy, các thầy có biết rằng vì sao các thầy là những người hạnh phúc nhất trên đời không? Vì sao? Vì các thầy không có con bò nào để mất”
Chúng ta đang có những con bò, tức là ràng buộc, nếu có sợi dây đó, ta nên nhìn sâu bản chất vấn đề, xem chúng có thật sự đem lại hạnh phúc cho mình không hay chỉ đem lại lo lắng sầu khổ và sợ hãi. Nếu đúng là sợ hãi chúng ta hãy tập cách thả bò. 
Nếu không có bò thì tâm trí ta mới có chỗ cho hạnh phúc. 
Tự do chính là chất liệu cao quý nhất của người tu. 
 
——-
Phần tiếp theo của “Quán Thân trong Thân” sẽ bàn về
  • Năng lực của Niệm và Đinh
  • Nhận diện cảm thọ 
 
Tham khảo 
https://www.goodreads.com/book/show/23477249-h-i-th-nu-i-d-ng-v-tr-li-u

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *